Lời tòa soạn: Nghị định 109/2026/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 18/05/2026, Nghị định 109/2026/NĐ-CP gây nên phản ứng nhiều chiều trong giới hành nghề luật, luật sư. Kinh doanh Tiêu dùng xin trân trọng giới thiệu ý kiến của Luật sư Trương Nguyễn Công Nhân, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Nhân Việt, Đoàn Luật sư TP.HCM về Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Theo tinh thần của Nghị quyết 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Mục IV.7) đã xác lập một định hướng rõ ràng: “Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp đối với luật sư”.
Chính phủ ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ngày 01/04/2026.
Tuy nhiên, mới đây tại Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, trao quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã được quyền: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề” luật sư. Điều này đang đặt ra câu hỏi lớn về tính hợp pháp và tính nhất quán trong quản lý hoạt động nghề luật sư.
Thứ nhất: Xung đột về thẩm quyền
Theo Luật Luật sư 2006 (sửa đổi 2012), thẩm quyền cấp và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư thuộc Bộ Tư pháp. Đồng thời, việc quản lý, kỷ luật luật sư được giao chủ yếu cho tổ chức xã hội – nghề nghiệp (Liên đoàn luật sư, Đoàn luật sư).
Tuy nhiên, Nghị định 121/2025/NĐ-CP, thẩm quyền cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư thuộc Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Và mới nhất Nghị định 109/2026/NĐ-CP, cho phép UBND cấp xã – cấp hành chính thấp nhất – thực hiện quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư.
Theo đó, thẩm quyền cấp, thu hồi, cấp lại, tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư quy định tại Nghị định 121/2025/NĐ-CP và Nghị định 109/2026/NĐ-CP, dẫn đến việc mở rộng thẩm quyền không được quy định trong Luật Luật sư. Điều này là trái với khoản 1 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015. Mà lẽ ra, phải sửa đổi bổ sung trong Luật Luật sư 2006.
Thứ hai: Chồng lấn cơ chế về kỷ luật nghề nghiệp và xử phạt hành chính
Luật Luật sư thiết kế một cơ chế kỷ luật nội bộ gồm: khiển trách, cảnh cáo, tạm đình chỉ, xóa tên khỏi danh sách luật sư – do tổ chức nghề nghiệp thực hiện. Trong khi đó, cơ chế “tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề” trong xử phạt hành chính lại thuộc một phạm trù khác: quyền lực nhà nước mang tính cưỡng chế.
Việc đồng thời tồn tại hai cơ chế này với cùng một hậu quả pháp lý (hạn chế hoặc chấm dứt quyền hành nghề) dẫn đến: nguy cơ xử lý trùng lặp, làm mờ ranh giới giữa tự quản nghề nghiệp và quản lý hành chính, làm suy yếu vai trò của tổ chức luật sư.
Thứ ba: Nguy cơ xung đột lợi ích và suy giảm tính độc lập của luật sư
Trong quá trình tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng hành chính, luật sư thường là bên đối trọng với UBND. Khi chính cơ quan này lại có quyền tước quyền hành nghề của luật sư, một nghịch lý rất dễ xuất hiện và dễ bị lạm dụng: Chủ thể bị kiểm soát lại nắm quyền chế tài chủ thể kiểm soát.
Hệ quả không chỉ là rủi ro pháp lý mà còn là rủi ro tâm lý nghề nghiệp đối với luật sư: Luật sư có thể tự hạn chế vai trò phản biện, giảm mức độ quyết liệt trong tranh tụng, ảnh hưởng đến quyền tiếp cận công lý của người dân.
Thứ tư: Sự lệch pha với định hướng chính sách phát triển nghề luật sư
Tinh thần của Nghị quyết 27-NQ/TW là: Giảm can thiệp hành chính, tăng cường tự quản nghề nghiệp đối với luật sư.
Trong khi đó, Nghị định 109/2026/NĐ-CP lại là: Phân quyền hành chính xuống cấp cơ sở, mở rộng kiểm soát nhà nước trực tiếp đối với luật sư.
Như vậy, quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hay không sự “lệch pha” so với tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW (Mục IV.7); và có nguy cơ xung đột với định hướng cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta hiện nay?
Luật sư TRƯƠNG NGUYỄN CÔNG NHÂN